Công nghệ RFID và ứng dụng của RFID (17.10.2013)
Ngày nay, nhiều doanh nghiệp đang tìm kiếm lợi thế cạnh tranh từ việc ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác quản lý kinh doanh. Một trong những công nghệ được đánh giá cao và ngày càng phổ biến hiện nay đó là RFID. Vậy RFID là gì và những ứng dụng của công nghệ này như thế nào? Qua bài viết này, tác giả hy vọng có thể giải thích một cách khái quát và súc tích nhất có thể về RFID.
 
RFID là viết tắt của cụm từ Radio Frequency Identification, nghĩa là việc nhận dạng bằng tần số của sóng vô tuyến. Hệ thống này gồm 3 bộ phận chính: thẻ RFID (tag), thiết bị đọc thẻ RFID (hay còn gọi là đầu đọc – reader) và các phần mềm vi tính. Thẻ RFID được gắn lên đến đối tượng cần theo dõi. Thẻ này có thể đính lên bất cứ sản phẩm nào, từ vỏ hộp đồ uống, đế giày, quần jean cho đến trục ôtô, các thùng chứa hàng hay kể cả người và động vật, vân vân. Các thẻ RFID được gắn chip nhỏ và anten siêu nhỏ bên trong nên khi đưa vào vùng điện trường của thiết bị đọc thẻ, thẻ sẽ nhận năng lượng để kích hoạt và truyền dữ liệu từ chip vào thiết bị đọc thẻ RFID, sau đó dữ liệu được chuyển về máy tính qua cổng giao tiếp. Bên cạnh đó, thẻ này đóng vai trò như thẻ nhớ của máy tính, do đó nó có thể được cập nhật dữ liệu nhiều lần. Bộ nhớ con chip có thể chứa từ 96 đến 512 bit dữ liệu, nhiều gấp 64 lần so với một mã vạch. Dung lượng lưu trữ cao của những thẻ nhãn RFID thông minh này sẽ cho phép chúng cung cấp nhiều thông tin đa dạng như thời gian lưu trữ, ngày bày bán, giá và thậm chí cả nhiệt độ sản phẩm. Các công ty chỉ việc sử dụng máy tính để quản lý các sản phẩm từ xa. RFID có thể thay thế kỹ thuật mã vạch hiện nay do RFID không chỉ có khả năng xác định nguồn gốc sản phẩm mà còn cho phép nhà cung cấp và đại lý bán lẻ biết chính xác hơn thông tin những mặt hàng trên quầy và trong kho của họ. Các công ty bán lẻ sẽ không còn phải lo kiểm kho, không sợ giao nhầm hàng và thống kê số lượng, mặt hàng sản phẩm đang kinh doanh của các cửa hàng. Hơn nữa họ còn có thể biết chính xác bên trong túi khách hàng vào, ra có những gì. Khi một RFID được gắn vào một sản phẩm, ngay tức khắc nó sẽ phát ra các tín hiệu vô tuyến cho biết sản phẩm ấy đang nằm ở chỗ nào, trên xe đẩy vào kho, trong kho lạnh hay trên xe đẩy của khách hàng. Do thiết bị này được nối kết trong mạng vi tính của cửa hàng nên nhờ vậy các nhân viên bán hàng có thể biết rõ sản phẩm ấy được sản xuất khi nào, tại nhà máy nào, màu sắc và kích cỡ của sản phẩm; để bảo quản sản phẩm tốt hơn thì phải lưu trữ nó ở nhiệt độ nào.
 
RFID được ứng dụng trong các lĩnh vực: quản lý đối tượng, nhân sự; quản lý hàng hóa bán lẻ trong siêu thị; nghiên cứu động vật học; quản lý hàng hóa trong xí nghiệp, kho hàng...; quản lý các phương tiện giao thông qua trạm thu phí; lưu trữ thông tin bệnh nhân trong y khoa; làm thẻ hộ chiếu, chứng minh nhân dân, vân vân. Các công ty đã và đang áp dụng RFID vào quản lý kinh doanh, kho hàng, kiểm soát tồn kho như Wal-mart, Boeing, Toyota, Harley Davidson,vân vân. Walmart trở thành nhà bán lẻ lớn nhất thế giới bằng cách tìm kiếm mọi cơ hội để có chuỗi cung ứng hiệu quả hơn và giảm chi phí nhằm thực hiện tốt khẩu hiệu “giá rẻ mọi ngày”. Walmart đã dùng công nghệ RFID được gần một thập kỷ và chỉ ra nhiều lợi ích, trong đó có quản lý tồn kho (dự trữ) hiệu quả hơn. Theo nghiên cứu của một trường đại học thực hiện tại Walmart, RFID giảm khoảng 30% nguy cơ thiếu hàng. Công nghệ này cũng giúp công ty đảm bảo an ninh tồn kho, giảm chi phí lao động, đơn giản hóa quy trình kinh doanh và tăng độ chính xác trong kiểm soát tồn kho. Năm 2004, Boeing tích hợp công nghệ RFID nhằm giảm chi phí tồn kho và bảo trì đối với loại máy bay Boeing 787 Dreamliner. Với chi phí cao của các bộ phận máy bay, công nghệ RFID cho phép Boeing theo dõi tồn kho bất kể các trở ngại về kích thước, hình dạng và môi trường. Qua suốt 6 tháng tích hợp, công ty đã có thể tiết kiệm chi phí lao động 29,000 USD.
 
Ở Việt Nam, công nghệ RFID đang được ứng dụng trong các lĩnh vực: kiểm soát vào - ra; chấm công điện tử; quản lý phương tiện qua trạm thu phí; kiểm soát bãi đỗ xe tự động; logistics. Tuy nhiên, lợi ích mà RFID đem lại được thể hiện rõ nhất trong hệ thống theo dõi, giám sát và truy xuất sản phẩm (traceability system). Hệ thống mạng cùng với công nghệ RFID, hệ thống theo dõi, giám sát và truy xuất sản phẩm (traceability system), khi đến tay người tiêu dùng (bao gồm tất cả các công đoạn: Tạo giống, ươm, nuôi trồng, chế biến, chuyên chở và phân phối). Những con chip RFID siêu nhỏ sẽ được gắn trên từng giai đoạn của sản phẩm nhằm ghi lại các thông số kỹ thuật của quy trình một cách tự động và được phần mềm chuyên dụng ghi lại kết quả nhằm làm cơ sở đảm bảo truy xuất được sản phẩm trong chuỗi giá trị, nhanh chóng tìm được nguồn gốc xuất xứ hàng hóa tại bất cứ đâu trong vòng 1 giờ. Khi có bất kỳ vấn đề gì xảy ra đối với sản phẩm thì ngay lập tức doanh nghiệp có thể truy xuất ngược lại để tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp xử lý kịp thời. Việc áp dụng công nghệ RFID trong truy xuất nguồn gốc thuỷ sản đem lại rất nhiều lợi ích, nhất là đối với người tiêu dùng, vì công nghệ này góp phần kiểm soát được an toàn vệ sinh vùng nuôi, kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong thủy sản nuôi, chứng nhận sản phẩm không mang mầm bệnh, người tiêu dùng có thể biết được mọi thông tin về sản phẩm mình sử dụng như là nuôi ở đâu, điều kiện môi trường như thế nào, dùng thức ăn gì... Do đó, tạo được tâm lý an toàn cho người tiêu dùng. Khi các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam sử dụng hệ thống này, việc xuất khẩu các sản phẩm thủy sản vào các nước có yêu cầu khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm và hàng rào kỹ thuật sẽ trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn rất nhiều.
 
Một số khác biệt giữa công nghệ RFID và công nghệ mã vạch 
 
Mã vạch là sự thể hiện thông tin trong các dạng nhìn thấy trên các bề mặt của sản phẩm, hàng hóa mà máy móc có thể đọc được. Nguyên thủy thì mã vạch lưu trữ dữ liệu theo bề rộng của các vạch được in song song cũng như của khoảng trống giữa chúng, nhưng ngày nay chúng còn được in theo các mẫu của các điểm, theo các vòng tròn đồng tâm hay chúng ẩn trong các hình ảnh. Mã vạch có thể được đọc bởi các thiết bị quét quang học gọi là máy đọc mã vạch hay được quét từ hình ảnh bằng các phần mềm chuyên biệt.
 
Khả năng đọc/ghi: Mã vạch không thể sửa đổi được một khi chúng đã được in ra, do đó mã vạch được biết tới là một công nghệ RO (Read-only: chỉ đọc). Ngược lại, các thẻ RFID RW (Read-write: đọc ghi), lại có cả khả năng đọc và ghi tới bộ nhớ, và số lần định dạng thẻ trong suốt quãng đời tồn tại của nó có thể lên tới hàng nghìn lần, đây cũng là một phần đã khiến cho công nghệ RFID trở nên mạnh mẽ như vậy.
 
Không cần đường ngắm: Một ưu thế khác của công nghệ RFID so với các mã vạch là các hệ thống RFID không cần đến một đường ngắm giữa một thẻ và thiết bị đọc để có thể làm việc đúng. Bởi vì các sóng vô tuyến có khả năng lan truyền qua nhiều chất liệu rắn khác nhau, tức là hiệu quả đọc với các thẻ RFID nằm sâu ở bên trong một khay hàng không kém là bao so với các thẻ nằm trực tiếp trên đường ngắm. Nhưng với mã vạch thì khác, các mã vạch phải nằm trên đường ngắm của máy quét thì nó mới hoạt động đúng được. Điều này có nghĩa là các mã vạch phải được đặt ở bên ngoài bao bì cũng như các đối tượng được gắn thẻ không được đặt ở sâu bên trong khay hàng trong quá trình đọc. Trong các ứng dụng quản lý chuỗi cung ứng, trong hầu hết các thời điểm đều có một số lượng lớn hàng hóa di chuyển, nên rất khó để có được một đường ngắm của máy quét với một hàng hóa cụ thể. Đây chính là ưu điểm lớn của công nghệ RFID so với công nghệ mã vạch.
 
Phạm vi đọc: Phạm vi đọc của mã vạch có thể có được một khoảng khá dài.Thông thường các phạm vi đọc đó có giá trị vào khoảng cỡ vài chục cm. Tuy nhiên các phạm vi đọc của các thẻ RFID lại có một khoảng thay đổi khá rộng, phụ thuộc vào tần số hoạt động của hệ thống, kích thước anten và thẻ đang sử dụng là thẻ tíchcực hay thẻ thụ động. Thông thường, các phạm vi đọc của các thẻ RFID có thể chạy từ vài cm tới vài mét.
 
Tính bảo mật truy nhập: Dữ liệu mã vạch có tính bảo mật rất thấp. Bởi vì các mã vạch cần thiết phải có một đường ngắm nên phải được đặt rõ ràng ở bên ngoài bao bì, do đó bất cứ ai với một máy quét mã vạch chuẩn hoặc chỉ với một chiếc camera cũng có thể xem trộm hoặc ghi lại dữ liệu trên đó. Nhưng với các hệ thống RFID thì lại được cung cấp một mức bảo mật cao hơn rất nhiều.
 
Độ bền, tính nhạy cảm với môi trường: Công nghệ RFID có khả năng chịu  đựng tốt hơn với bụi bẩn và môi trường khắc nghiệt so với công nghệ mã vạch. Các mã vạch có thể sẽ không đọc được nếu như chúng bị bao phủ bởi bụi bẩn, hoặc là bị rách nát. Ngoài ra trong một môi trường với ánh sáng cường độ cao cũng có thể gây trở ngại cho máy quét mã vạch mà tồi tệ hơn là không thể đọc được các mã vạch. Riêng với công nghệ RFID thì các vấn đề này không ảnh hưởng gì nhiều tới nó.
 
Khả năng đọc ổn định: Trong các ứng dụng chuỗi cung ứng, đọc chính xác ngay lần đầu sản phẩm đi qua nó là rất quan trọng để duy trì hiệu quả hoạt động cao. Với các mã vạch thì thường phải được qua hệ thống tới hai lần hoặc thực hiện đọc bằng tay. Rõ ràng như vậy rất bất tiện và ảnh hưởng nhiều tới hoạt động chung của toàn hệ thống. Với các hệ thống RFID, thông qua các thuật toán chống xung đột và các tính năng RW, có thể loại bỏ được việc sản phẩm phải quét nhiều lần mới thu được thành công dữ liệu.
 
Giá thành: Giá thành của công nghệ này cao. Giá một thẻ thụ động vào khoảng 0,1 - 1,5 USD và một thẻ chủ động tầm 5 - 20 USD; và giá của đầu đọc thẻ vào khoảng 1000 USD. Liên quan đến vấn đề chi phí, nên số lượng doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng công nghệ này vẫn còn thấp. Ở các nước, thẻ RFID được gắn cho từng sản phẩm, còn ở Việt Nam để tiết kiệm chi phí, người ta thường gắn thẻ RFID vào các thùng chứa hàng, xe đẩy chứa hàng. Như vậy, chi phí là rào cản lớn nhất ngăn cản sự tăng trưởng của công nghệ RFID. Bởi vậy, RFID chưa thể thay thế hoàn toàn công nghệ mã vạch, mà chúng vẫn song hành với nhau.
 
Theo Manish Bhuptani, Chủ tịch Hãng cung cấp giải pháp RFID, Cleritec Systems thì luôn có một danh sách dài các sai sót mà nhiều công ty thường mắc phải khi thực thi RFID. Trong số đó có sự thiếu phân tích chi phí kỹ lưỡng (chỉ tập trung vào các chi phí mua sắm mà bỏ qua các chi phí bảo dưỡng lâu dài); không nhờ cậy các nhà tư vấn có chuyên môn; triển khai RFID xuyên suốt dây chuyền cung ứng mà không tổ chức kiểm tra, khảo sát nội bộ; và chỉ xây dựng một hệ thống tổng thể mà không quan tâm đến chi tiết cái nào thì mua, cái nào thì thuê. Bhuptani và nhiều chuyên gia RFID khác tin tưởng rằng về lâu dài RFID sẽ phổ biến như việc sử dụng các máy tính cá nhân trong kinh doanh ngày nay. “Nhưng cũng như những chặng đường phát triển đã đi qua, các công ty cần tiến những bước thận trọng để tránh các thất bại không đáng có”, Bhuptani cho biết. Mặc dù chi phí đầu tư cao, nhưng nếu muốn đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững thì các doanh nghiệp cần xem xét ứng dụng RFID vào hệ thống quản lý kinh doanh của mình, đặc biệt là các doanh nghiệp có sản phẩm đa dạng và lượng tồn kho lớn.
----
Trần Phương Trang
4.2
Các tin tức đã đăng:
   Hợp tác với Nokia, Micreosoft đánh cược với Apple để hồi sinh (17.10.2013)
   Báo cáo toàn bộ và báo cáo trực tiếp (phần 1) (16.10.2013)
   Mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với quảng cáo (Phần 1) (16.10.2013)
   Sử dụng công cụ truyền thông xã hội trong hoạt động kinh doanh nhà hàng (Phần 1) (16.10.2013)