Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (phần 3) (18.02.2014)

3.2 Hỗ trợ và hạn chế của hợp tác du lịch ASEAN

Một số nghiên cứu đã chỉ ra các điều kiện để các bên hợp tác thành công. Nhìn chung các tác giả đã xác định được ba yếu tố, cụ thể là: (1) mức độ tham gia của mỗi bên, (2) năng lực của các bên liên quan để thực hiện các chương trình, và (3) sự sẵn sàng. Chúng tôi giải thích chi tiết như dưới đây.

Vangen và Huxham (2003:5-6) cho rằng trong hầu hết các trường hợp, mục đích của sự hợp tác là “để đối phó hiệu quả hơn với các vấn đề chính được bàn thảo trong các cuộc họp liên tổ chức, đây là những vấn đề mà không một tổ chức nào có thể hành động riêng lẻ mà thành công". Tùy thuộc vào mức độ tham gia của các bên có liên quan, mức độ cam kết của các bên liên quan và cơ hội thành công của sự hợp tác có thể thay đổi (Freeman, 1984). Ví dụ, nếu có hoạt động đầu tư đáng kể hoặc tiếng tăm của các tổ chức đang không tốt thì các bên có liên quan có thể chú ý nhiều đến kế hoạch hợp tác.

Yếu tố thứ hai liên quan đến năng lực của tổ chức và con người để quản lý quá trình hợp tác với đối tác từ bên ngoài cũng như trong nội bộ tổ chức. Sự thành công của việc hợp tác bắt đầu từ một kế hoạch tốt. Vì vậy, kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức chiến lược tốt là yêu cầu hàng đầu của công tác quản trị. Họ cũng phải có chuyên môn trong việc xử lý các mối quan hệ liên tổ chức. Ở góc độ quản trị nội bộ, kỹ năng quản lý như triển khai các nguồn lực và lãnh đạo là điều cần thiết để thực hiện kế hoạch hợp tác trong từng tổ chức (Zollo, Reuer, và Singh, 2002).

Thứ ba , sự sẵn sàng tham gia xử lý và thực hiện những gì đã được lên kế hoạch có thể được coi là một yếu tố quan hệ. Nó độc lập với hai yếu tố đầu tiên, hai bên có mối quan hệ yếu hay tiêu cực thì có thể không được thực hiện được hợp tác ( theo kế hoạch ) ngay cả khi họ có thẩm quyền để làm như vậy. Polonsky , Schuppisser , & Beldona (2002) đề xuất rằng các mối quan hệ giữa các bên liên quan phụ thuộc vào số lần tin tưởng, hợp tác trong quá khứ và hiện nay, mối quan hệ quyền lực, cam kết và lợi ích chung giữa các bên liên quan. Husted (1994) cho rằng việc sử dụng chi phí giao dịch và các mạng xã hội đưa đến kết luận tương tự nhưng cho biết thêm rằng mức độ hợp tác sẽ tăng khi có nhiều hơn một liên kết giữa các bên liên quan (ví dụ như ở các nước ASEAN , nhiều nước hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực kinh tế) nếu họ chia sẻ các giá trị tương tự nhau và cùng dự định hợp tác tiềm năng ​​trong tương lai.

Trong khi các tác giả không đồng ý với quan điểm này, họ bị hạn chế phần nào đó về khả năng phát hiện ra các yếu tố thành công khác. Việc phân tích phát hiện tình huống đưa đến một cách tiếp cận khác, trong đó bao gồm các nghiên cứu về ba khía cạnh của sự hợp tác: các bên liên quan, nguồn lực, và các quy trình cơ chế. Trong phân tích sau đây đã giúp khám phá ra điều kiện thuận lợi và hạn chế chưa được giải quyết đầy đủ trong các nghiên cứu mà liên quan đến việc hiểu biết về hợp tác du lịch ASEAN.

3.2.1. Các bên liên quan

Những người được phỏng vấn nói nhiều đến vai trò của các bên liên quan, đấy vừa là nhân tố tạo điều kiện và cản trở. Các bên liên quan tạo điều kiện cho hợp tác du lịch ASEAN theo ba cách:

a) Ý chí chính trị và hỗ trợ từ các lãnh đạo quốc gia

b) Sự tin tưởng nhau được các nhà làm chính sách du lịch qua nhiều năm làm việc cùng nhau xây dựng.

c) Hợp tác tiểu vùng, đặc biệt là Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS)

3.2.1.1. Ý chí chính trị và hỗ trợ từ các lãnh đạo quốc gia.

Mười quốc gia có các nền văn hóa khác nhau và các giai đoạn phát triển khác nhau làm việc cùng nhau là một nhiệm vụ đầy thử thách. Hợp tác du lịch ASEAN vẫn không đáng kể cho đến năm 1997/8, khi khu vực này bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính châu Á. Sau đó việc hợp tác bắt đầu tiến thêm bước nữa sau sự kiện bi thảm ngày 11/9 và vụ đánh bom ở Bali năm 2002, đó chính là việc ra mắt của Hiệp định Du lịch ASEAN vào năm 2002. Như Wong et al. (trên báo chí) đã nói, cho đến nay, sự kiện quan trọng đã đạt được dưới sự thúc đẩy hỗ trợ từ lãnh đạo quốc gia hoặc các bộ trưởng kinh tế, lần đầu tiên với ký kết Hiệp định năm 2002, sau đó xác định du lịch là một ngành ưu tiên, và đưa ra lộ trình vào năm 2004. Như người được phỏng vấn nhận xét, ý chí chính trị của cấp cao là rất quan trọng.

"Chúng tôi đang thực hiện chiến lược này, bởi vì Thủ tướng Chính phủ đã quyết định trong hội nghị thượng đỉnh rằng du lịch sẽ là một trong các lĩnh vực hợp tác khu vực. Vì vậy, đó là nơi mà các cam kết được đưa ra. Các cam kết đã được đưa ra ở cấp cao. Các Thủ tướng đã quyết định điều này là quan trọng." (Đại diện tổ chức quốc tế)

Điều này đã thể hiện trong nhiều tài liệu nghiên cứu, qua đó cho thấy mức độ sẵn sàng tham gia hợp tác sẽ xác định được mức độ thành công của các mối quan hệ (Husted, 1994; Polonsky và cộng sự, 2002.). Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy, nghiên cứu về môi trường chính trị của du lịch ASEAN cần phải được phân nhóm bởi vì các động thái ở các cấp độ khác nhau của chính phủ có tác động khác nhau trong quá trình hợp tác. Ở cấp quốc gia, có lực lượng để tạo điều kiện, nhưng cấp ngành và bộ thì có những yếu tố ngăn chặn như cạnh tranh giữa các thành viên và thiếu tư duy hợp tác. Nói cách khác, những tuyên bố cấp cao đã hứa hẹn sự hợp tác lớn hơn không nhất thiết phải thay đổi để hành động vì sự hợp tác đôi khi được coi là sự thỏa hiệp mà tác động đến lợi ích quốc gia. Các yếu tố ngăn chặn sẽ được thảo luận sâu.

Nguyễn Lê Giang Thiên dịch từ “A framework for analyzing intergovernmental collaboration – the case of ASEAN tourism, Emma P.Y.Wong, Nina Mistilis, Larry Dwyer.

2.0
Các tin tức đã đăng:
   Chuỗi cung ứng cà phê của Nestlé (23.01.2014)
   Chứng khoán phái sinh (19.01.2014)
   Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (phần 2) (19.01.2014)
   Khuôn khổ phân tích hợp tác liên chính phủ - trường hợp du lịch ASEAN (16.01.2014)