CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Môi Trường

  • Duyệt theo:
51 Một số giải pháp khả thi giảm thiểu thách thức về rác thải nhựa / Mai Hạnh // Tài nguyên & Môi trường .- 2019 .- Số 21 (323) .- Tr. 61 - 62 .- 363

Mỗi năm, chúng ta sản xuất khoảng 300 triệu tấn nhựa, một nửa trong số đó là nhựa dùng một lần. Vậy phải ứng xử với nhựa dùng một lần như thế nào? Về thành phần, nhựa dùng một lần thường được sản xuất với chất phụ gia là dầu mỏ. Điều đó, gây khó khăn cho quá trình tái chế và để giải quyết vấn đề này, chúng ta phải bổ sung một số vật liệu, hóa chất. Để góp phần giảm thiểu lượng rác thải nhựa, Việt Nam không chỉ hạn chế dùng đồ nhựa một lần mà còn cần phải có những giải pháp hợp lý để tránh rơi vào “bẫy ô nhiễm” tạo áp lực khác lên môi trường.

52 Ứng dụng phương pháp bình sai truy hồi thuật toán T thuận trong xử lý toán học mạng lưới trắc địa / Lương Thanh Thạch // Tài nguyên & Môi trường .- 2018 .- Số 20 .- Tr. 11-15 .- 363

Xử lý toán học (bình sai) các mạng lưới trắc địa là nội dung cơ bản và quan trọng của công tác đo đạc và bản đồ. Để thực hiện công việc này, hiện nay có nhiều phương pháp khác nhau. Bài viết đề cập tới sử dụng thuật toán T thuận là một trong các thuật toán bình sai truy hồi.

53 Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến biến động dòng chảy mặt lưu vực sông Nậm Mức / Trương Vân Anh, Trịnh Xuân Mạnh // Tài nguyên & Môi trường .- 2018 .- Số 20 .- Tr. 3-10 .- 363

Sông Nậm Mức là một phụ lưu lớn của dòng chính sông Đà, có vị trí địa lý, địa hình và điều kiện tự nhiên khá phức tạp. Dòng chảy sông ngòi trên lưu vực biến đổi do những diễn biến bất lợi của các yếu tố khí hậu cũng như thủy văn. Bài viết nghiên cứu sự biến động của dòng chảy mặt trên lưu vực sông Nậm Mức dưới tác động của biến đổi khí hậu dựa trên việc phân tích chuỗi số liệu thực đo và sử dụng công cụ mô hình toán thủy văn MIKE NAM. Hai kịch bản RCP 4.5 và RSP 8.5 cho giai giai đoạn 2016-2035 và 2045-2065 được sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy lưu lượng trung bình mùa lũ cũng có xu thế tăng so với giai đoạn nền. Lưu lượng trung bình mùa lũ cũng có xu thế tăng và tăng lớn nhất trong giai đoạn giữa thế kỷ. Nguyên nhân được xác định là do lượng mưa mùa hạ của hai kịch bản này đều tăng so với thời kì cơ sở.

54 Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nguy cơ ngập lụt khu vực nội thành Hà Nội / Nguyễn Kiên Dũng, Trần Chấn Nam // Tài nguyên & Môi trường .- 2018 .- Số 20 .- Tr. 43-49 .- 363

Bài viết trình bày việc ứng dụng mô hình MIKE URBAN để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nguy cơ ngập lụt khu vực nội thành Hà Nội thông qua việc so sánh bản đồ ngập lụt xảy ra do trận mưa một ngày lớn nhất tương ứng với các kịch bản hiện trạng và kịch bản biến đổi khí hậu.

55 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến điện tích của màng lọc nano / Nguyễn Phương Tú, Đoàn Thị Oanh // Tài nguyên & Môi trường .- 2018 .- Số 20 .- Tr. 107-112 .- 363

Đề cập đến ảnh hưởng của giá trị pH đến điện tích của màng lọc nano trong quá trình hoạt động của màng. Điện tích của màng lọc không cố định mà có thể thay đổi khi thay đổi pH của dung dịch. Thí nghiệm được tiến hành với màng lọc nano composite lớp mỏng NF-270. Các giá trị điên jthees zeta thể hiện điện tích của màng lọc thay đổi theo sự thay đổi pH của dung dịch đầu vào. Điện thế zeta giảm khi tăng pH từ 3,81 tới 10,52. Khi giá trị điện thế zeta nhỏ hơn 0, trị tuyệt đối của nó tăng khi pH tăng. Đặc biệt, tại pH = 5,01, có sự thay đổi điện tích của màng lọc. Giá trị điện thế zeta của màng lọc tại pH 5,01 là -0,41 mM, thể hiện sự thay đổi điện tích màng lọc từ điện tích dương sang điện tích âm. Ảnh hưởng của pH đến điện tích của màng lọc là yếu tố quan trọng tác động tới khả năng loại bỏ các chất tan mang điện tích của màng lọc nano.

56 Nghiên cứu ứng dụng mô hình Marine và Muskingum dự báo thủy văn lưu vực sông Kỳ Lộ tỉnh Phú Yên / Võ Anh Kiệt, Bùi Văn Chanh // Tài nguyên & Môi trường .- 2018 .- Số 20 .- Tr. 66-72 .- 363

Kỳ Lộ là con sông lớn thứ hai của tỉnh Phú Yên, trải rộng trên hai huyện Đồng Xuân và Tuy An. Diễn biến lũ và ngập lụt rất nghiêm trọng, hàng năm xuất hiện từ 2 đến 3 trận lũ lớn gây hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là trận lũ lịch sử năm 2009 đã xóa sổ một số làng mạc ven sông của huyện Đồng Xuân. Lưu vực sông Kỳ Lộ cũng như các lưu vực sông khác khu vực miền Trung có địa hình dốc, lưu vực sông ngắn nên thời gian lũ lên nhanh, xuống nhanh, dòng chảy mạnh, độ ngập sâu lớn. Ngoài ra đặc điểm thổ nhưỡng, thảm phủ, mưa phân hóa rất mạnh theo không gian. Với đặc điểm như trên, việc ứng dụng mô hình thủy văn thông số tập trung sẽ rất hạn chế do thông số địa hình, thảm phủ, thổ nhưỡng, mưa đã được trung bình hóa. Để nâng cao độ chính xác mô phỏng, năng lực dự báo ở địa phương cần nghiên cứu ứng dụng mô hình mưa dòng chảy, thông số phân bố, đặc biệt là mô hình phân bố vật lý. Loại mô hình này có khả năng mô phỏng, đánh giá tác động của các yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, thảm phủ và mưa chi tiết theo không gian. Dòng chảy sườn dốc được diễn toán bằng mô hình Marine, quá trình lưu lượng tiếp tục được diễn toán bằng mô hình Muskingum. Tác giả đã nghiên cứu xây dựng mô hình Muskingum và tích hợp với mô hình Marine để mô phỏng liên tục quá trình dòng chảy trên lưu vực sông Kỳ Lồ, dự báo cho trại thủy văn Hà Băng. Kết quả dự báo thử trong trận lũ trung tuần tháng 11 năm 2016 cho kết quả tốt, làm cơ sở nâng cao chất lượng dự báo thủy văn cho Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Trung bộ và Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Phú Yên.

57 Đánh giá vai trò của đập dâng nước trong việc phát triển kinh tế xã hội khu vực hạ lưu sông Hồng - sông Thái Bình / Vũ Văn Lân, Nguyễn Văn Lân // Tài nguyên & Môi trường .- 2018 .- Số 20 .- Tr. 73-85 .- 363

Suy thoái tài nguyên nước do tác động của con người và biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo dự báo đến năm 2025 nguồn nước của Việt Nam sẽ bị giảm đi khoảng 40 tỷ m3, trong đó lượng nước mùa khô có thể giảm khoảng 13 tỷ m3. Với sức ép về gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu sử dụng nước ngày một tăng lên về số lượng và đa dạng về chất lượng, mặc dù nhu cầu nước nông nghiệp có xu thế giảm đi, nhưng nước cho duy trì môi trường sinh thái, phát triển các hệ thủy sinh, chăn nuôi, nước cho sinh hoạt và công nghiệp tăng lên sẽ là một áp lực không nhỏ, trong khi xu thế nguồn nước đến từ mưa cũng có xu thế giảm. Vấn đề nghiên cứu dòng chảy mùa kiệt và các giải pháp khoa học công nghệ tương ứng cần phải được chú trọng, đầu tư một cách đúng mức. Do vậy việc đánh giá hiện trạng dòng chảy của hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình và mô phỏng chế độ dòng chảy trong mùa kiệt khi đề xuất xây dựng một số đập ngăn sông nhằm giữ nước ngọt, tăng mực nước dọc sông phục vụ lấy nước cho tưới và các hoạt động kinh tế xã hội khác nhau và giảm xâm nhập mặn ở hạ lưu là rất cần thiết.

58 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của người dân tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội / Nguyễn Thị Hoài Thương, Phạm Thị Hồng Phương // Tài nguyên & Môi trường .- 2018 .- Số 20 .- Tr. 55-65 .- 363.1

Tiêu dùng bền vững và tiêu dùng xanh là xu hướng tiêu dùng của thế giới. Nghiên cứu này bước đầu điều tra hiện trạng nhận thức và thói quen tiêu dùng xanh như sử dụng năng lượng, xử lý chất thải sinh hoạt của người dân sống tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng khái niệm về tiêu dùng xanh tương đối mới mẻ nhưng đã bắt đầu tiếp cận với người dân (60,8%) người dân đã từng nghe về hành vi tiêu dùng xanh, trong đó 96% người dân hiểu biết về bản chất và ý nghĩa của hành vi tiêu dùng xanh). Khảo sát chỉ ra những kết quả tích cực trong hành vi tiết kiệm năng lượng và hoạt động thu gom tái chế các sản phẩm đã qua sử dụng của người dân trên địa bàn. Đánh giá sự liên quan giữa nhận thức, thói quen tiêu dùng xanh với các yếu tố như giới tính, độ tuổi, thu nhập và trình độ học vấn nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dựa trên mẫu khảo sát 97 người dân tại quận Bắc Từ Liêm, kết quả phân tích độ tin cậy, giá trị của các đo lường chỉ ra mô hình phù hợp với dữ liệu. Trong đó bốn yếu tố xem xét, thì yếu tố giới tính và trình độ nhận thức và thu nhập có ảnh hưởng quan trọng, giải thích cho các hành vi tiêu dùng xanh. Để nâng cao tỷ lệ người dân tiêu dùng bền vững thì không chỉ phụ thuộc vào quyết định của người dân mà còn phụ thuộc rất lớn vào các chương trình tuyên truyền giáo dục và chính sách khuyến khích hỗ trợ của các cơ quan chức năng.

59 Tái chế rác thải thành vật liệu hữu dụng / Nguyễn Văn Hiệu // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2019 .- Số 11(728) .- Tr.42-43 .- 363

Trình bày ứng dụng công nghệ tiên tiến tái sử dụng, tái chế rác thải, trong đó có rác thải nhựa. Lãnh đạo TP Hà Nội và TP Đà Nẵng đang xúc tiến xây dựng các nhà máy đốt rác phát điện. Ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) vật liệu nước ta đã khởi đầu nghiên cứu tái chế tro của các nhà máy đốt rác phát điện thành vật liệu hữu dụng.

60 Đưa sáng chế số 7430 vào phục vụ thực tiễn sản xuất và đời sống / Hoàng Quốc Tuấn // .- 2019 .- Số 11(728) .- Tr.57-59 .- 363

Phân tích sáng chế 7430 đưa vào phục vụ thực tiễn sản xuất và đời sống. Dự án là tiền đề quan trọng góp phần xóa bỏ các tụ điểm ô nhiễm môi trường cấp bách hiện nay trên cả nước liên quan đến các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt.